Hằng năm, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức công bố Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII). Đây là bộ công cụ đánh giá năng lực ĐMST quốc gia có uy tín trên thế giới, phản ánh mô hình phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (ĐMST) của các quốc gia. Qua đó, các quốc gia thấy được bức tranh tổng thể cũng như điểm mạnh, điểm yếu của mình.
Vì lý do này mà GII hiện được chính phủ nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ tham chiếu quan trọng cho quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cũng như để xây dựng các chính sách khoa học, công nghệ và ĐMST (Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Columbia, Brazil,…). Theo kết quả khảo sát năm 2025-2026 của WIPO, có 93 quốc gia thành viên sử dụng kết quả GII trong xây dựng các chiến lược, chính chính sách khoa học, công nghệ và ĐMST.
Tối ngày 29/9/2026, WIPO đã tổ chức lễ công bố Báo cáo GII 2026 tại Geneva. Theo đó, Việt Nam được xếp hạng 43/139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025. Tính từ năm 2016 đến nay, chỉ số GII của Việt Nam liên tục được cải thiện, tăng từ vị trí 59 lên 43, cải thiện 16 bậc.
Năm 2026, Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu ra ĐMST tăng 02 bậc so với năm 2025, từ vị trí 37 lên 35, nhờ đó thứ hạng chung được cải thiện một bậc, đạt mục tiêu do Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026.

Việt Nam đứng thứ 43 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2026.
Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp. Quốc gia thu nhập trung bình thấp xếp trên Việt Nam là Ấn Độ với thứ hạng 38.
Ngoài ra, có 2 quốc gia có thu nhập trung bình cao xếp trên Việt Nam (Trung Quốc xếp hạng 10, Malaysia xếp hạng 34), còn lại tất cả các quốc gia xếp trên Việt Nam đều là các quốc gia có nền công nghiệp phát triển, thuộc nhóm thu nhập cao. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam tiếp tục vượt lên trên Thái Lan, đứng thứ 3 sau Singapore và Malaysia, vượt mục tiêu do Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026.
Trong Báo cáo GII 2026 của WIPO, Việt Nam được WIPO ghi nhận là một trong 07 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm 2013 (gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Ma-rốc và Indonesia). Việt Nam cũng là một trong 03 quốc gia có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển (gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam). Trong 16 năm liền, Việt Nam luôn có kết quả ĐMST cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra ĐMST.
Trong GII 2026, Việt Nam tiếp tục đứng đầu thế giới ở 2 chỉ số gồm tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Ba chỉ số khác của Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu thế giới gồm tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao, xếp hạng 3; số lượng ứng dụng điện thoại thông minh được phát triển và sử dụng, xếp hạng 5; tốc độ tăng năng suất lao động, xếp hạng 6.
Một số chỉ số khác cũng ghi nhận thứ hạng tương đối cao như phần chi nghiên cứu và phát triển (NC&PT) do doanh nghiệp trang trải trên tổng chi NC&PT, xếp hạng 13; tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân tính trên GDP, xếp hạng 14; mức thuế bình quân gia quyền, xếp hạng 15; tổng tư bản hình thành và mức độ đa dạng của sản xuất trong nước cùng xếp hạng 19.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đánh giá, việc chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng hai bậc là kết quả rất đáng ghi nhận. Kết quả này đến từ tinh thần triển khai Nghị quyết số 57 rất quyết liệt trong hơn một năm vừa qua.
Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có bước tăng mạnh mẽ.
Thứ hai, từ việc triển khai Nghị quyết số 57, hệ thống chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước được hoàn thiện.
Thứ ba, sự tham gia của các bên liên quan, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến các viện nghiên cứu, trường đại học, đã góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Những kết quả này đã được ghi nhận thông qua Chỉ số Đổi mới sáng tạo.
Để đạt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) vào năm 2030 và nhóm 30 quốc gia dẫn đầu vào năm 2045, Bộ trưởng cho rằng có rất nhiều việc phải làm. Nhìn vào kết quả phân tích Chỉ số Đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm nay, chúng ta thấy vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, cụ thể như sau:
Thứ nhất là chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược. Chúng ta cần tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ có trình độ sau đại học.
Thứ hai là phải đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế. Đây là những sản phẩm có liên quan trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, đặc biệt quan trọng, là sự tham gia của doanh nghiệp vào các hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển.
Trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa, cả về tài chính và con người, từng bước đưa công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và tăng năng suất lao động.
“Chỉ khi các doanh nghiệp thực sự vào cuộc, tôi nghĩ rằng chúng ta mới có thể đạt được các mục tiêu về đổi mới sáng tạo theo tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh.
Thanh Tùng
